- Tôm thẻ là loài rộng muối, nuôi được nhiều môi trường khác nhau (0 – 40‰). Tuy nhiên khi nuôi mặn thấp thì người nuôi phải đối mặt với nhiều thử thách do tôm phải sống trong môi trường nhược trương. Lúc này tôm phải mất khá nhiều năng lượng cho duy trì áp suất thẩm thấu. Từ 0 – <5‰ được xem là nước có mặn rất thấp.
- Hiểu đơn giản trong môi trường mặn thấp sẽ thiếu rất nhiều các ion khoáng chất, tôm thẻ nuôi bắt buộc phải nạp nước và lọc khoáng chất giữ lại cơ thể nhằm cân bằng nội mô cho các hoạt động sống và tăng trưởng của tôm.
- Dưới đây là phân tích chi tiết về ưu và nhược điểm của phương pháp nuôi này với những lưu ý quan trọng cho nuôi tôm mặn thấp.
- Ưu điểm
- Đa dạng được diện tích nuôi trồng: tạo điều kiện để hình thành vùng nuôi canh tác mới
- Ít gặp phải các mầm bệnh nguy hiểm trong thời gian nuôi những năm đầu: Hạn chế độc lực gây bệnh đối với những bệnh nguy hiểm như EMS/AHPND, TPD, các bệnh do vi vút gây ra. Thường các bệnh này sẽ trở nên nguy hiểm ở môi trường mặn cao >15‰.
- Tạo ra nhiều lợi thế khi xử lý nước ban đầu: Nguồn nước độ mặn thấp hoặc nước ngầm thường ít chứa các sinh vật trung gian truyền bệnh, tảo độc hay tạp chất phức tạp như nước biển hay sông nhiễm mặn. Mặt khác chất lượng nước tích lũy nhiều chất rắn hòa tan sẽ là vấn đề lớn cho sự ổn định môi trường sau này.
- Tốc độ tăng trưởng ổn định nếu quản lý tốt: Tôm thẻ chân trắng là loài có khả năng thích nghi biên độ mặn rộng. Tôm vẫn tăng trưởng tốt, thậm chí tốt hơn nếu trong môi trường đầy đủ khoáng chất, hệ đệm ổn định, môi trường ao nuôi luôn đảm bảo tính thẩm thấu tốt cho tôm. Làm sao để đảm bảo được khoáng chất và tính thẩm thấu sẽ là 1 dấu hỏi lớn cho nuôi tôm với độ mặn rất thấp.
- Tỷ lệ Ca:Mg:K (1:3:1) có đúng không?
- 1 loại khoáng chất tạt vào thật nhiều có đúng không?
- Tất cả các loại khoáng chất có đúng không? Vv…
- Nhược điểm (Thách thức kỹ thuật)
Đây là phần cốt lõi mà người nuôi cần đặc biệt lưu ý vì môi trường độ mặn thấp đòi hỏi kỹ thuật kiểm soát có sự hiểu biết hơn về sinh học của tôm và chất lượng nước.
- Rối loạn áp suất thẩm thấu và thiếu hụt khoáng chất trầm trọng:
- Trong nước độ mặn thấp, hàm lượng các ion khoáng thiết yếu như Canxi (Ca2+), Magiê (Mg2+), Kali (K+) và hàm lượng Kiềm (HCO3–) và (CO32-)thường bị thiếu hụt nghiêm trọng hoặc bị mất cân bằng tỷ lệ khoáng chất
- Tôm phải tiêu tốn rất nhiều năng lượng để điều hòa áp suất thẩm thấu giữa cơ thể và môi trường trên nguyên lý (lọc nước giữ khoáng, ăn khoáng bổ sung thêm). Nếu không bù khoáng kịp thời cả ngoài môi trường và trong cơ thể tôm, tôm rất dễ bị mềm vỏ, khó lột xác, lột dính vỏ, cơ thịt bị đục và chết rải rác.
- Dễ cảm nhiễm bệnh (đốm đen, nấm, vàng miệng, vv..), sức chống chịu kém sẽ là cơ hội gây bội nhiễm thêm các vấn đề khác.
- Nguy cơ ngộ độc khí độc (NO2, NH3) cao hơn nhiều lần:
- Ion Clorua (Cl–) trong nước mặn có tác dụng cạnh tranh và ngăn chặn độc tính của Nitrit (NO2) hấp thụ qua mang tôm. Điều này có thể nhìn thấy được ở mặn cao NO2 lên rất cao mà tôm vẫn rất ít bị ảnh hưởng.
- Ở độ mặn thấp, hàm lượng Cl– rất ít, khiến độc tính của NO2 trở nên cực kỳ nguy hiểm. Nhưng theo cơ chế này người nuôi cũng không nên đi tìm giải pháp triệt tiêu NO2 vì điều này là rất khó. Vì vậy cần có kiểm soát ở những chỉ tiêu chất lượng nước khác theo hướng mỗi vấn đề làm tốt một chút để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của NO2.
- Biến động môi trường lớn (Độ kiềm và pH): Nguồn nước độ mặn thấp (đặc biệt là nước sông, nước mưa nhiều) có hệ đệm rất yếu. Độ kiềm dễ tụt sâu sau các cơn mưa lớn, dẫn đến pH biến động mạnh, gây sốc cho tôm và làm sụp hệ vi sinh vật có lợi trong ao. Thực tế cho thấy sau những cơn mưa lớn đôi khi nước không trong lên mà lại chuyển màu nâu đen, đỏ đậm, sậm màu đó là dấu hiệu cho thấy hệ vi sinh vật và môi trường trong nước đã có nhiều biến động lớn.
- Hao hụt đầu con khi thả giống: Hai vấn đề chính để đảm bảo tỷ lệ sống ổn định hơn cho ao nuôi mân thấp. Thứ 1 ở trại giống việc hạ độ mặn cần nhiều thời gian hơn để tôm dễ thích nghi, thứ 2 phụ thuộc vào cách làm nước đặc thù cho vùng mặn thấp.
- Chất lượng thịt tôm có thể bị ảnh hưởng: Tôm nuôi ở độ mặn thấp thường có vỏ mỏng hơn, tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển tươi sống cao hơn và vị thịt đôi khi không đậm đà, săn chắc bằng tôm nuôi ở vùng nước mặn.

💡 Giải pháp cốt lõi
Để tối ưu hóa ưu điểm và kiểm soát nhược điểm khi nuôi tôm độ mặn thấp, người nuôi cần tập trung vào các giải pháp kỹ thuật sau:
- Quản lý nghiêm ngặt tỷ lệ khoáng: Không chỉ chú ý đến hàm lượng tổng số mà phải duy trì đúng “tỷ lệ cân bằng giữa các ion”. Việc bổ sung khoáng đạt chuẩn vào nước và trộn vào thức ăn phải diễn ra liên tục, đặc biệt là chu kỳ tôm lột xác tập trung. Điều này chỉ là lý thuyết suôn vì trong nước độ mặn thấp để đưa được hàm lượng khoáng đa lượng về mức chuẩn là việc làm mất thời gian và chi phí. Không phải tất cả các vùng nuôi đều có sự cân đối về khoáng chất. Trong nước mặn thấp xu hướng xử lý cân bằng khoáng nên tập trung vào thực tiễn để tôm nuôi có khả năng thích nghi tốt nhất, từ đây hệ đệm nước cũng sẽ có được sự ổn định kèm theo.
- Giữ độ kiềm cao: Luôn duy trì độ kiềm ổn định từ 120 -150mg/L, đây là điều ai cũng muốn nhưng trong nước mặn thấp không phải nguồn nước nào cũng đáp ứng được mức kiềm này, do vậy đối với mặn thấp thì cần duy trì kiềm càng cao càng tốt.
- Kiểm soát khí độc: Như đã phân tích ở trên thì độc tính Nitrite ở độ mặn thấp rất cao, nhưng loại bỏ là điều khó khăn, nên việc quản lý chất lượng nước ao sẽ phụ thuộc nhiều việc áp dụng vi sinh xử lý nước, quản lý cho ăn và các chất phụ trợ làm tốt chất lượng nước. Mục tiêu là luôn giữ nước được sạch thoáng, đáy sạch, đầy đủ oxy, duy trì được thẩm thấu tốt bằng hỗn hợp (vôi canxi, magie, kali, khoáng đa vi lượng) thì ảnh hưởng của khí độc là không đáng ngại.
- Mật độ nuôi trong nước có mặn thấp: phải chăng trong nước mặn thấp cần nuôi thưa để nhẹ chi phí, điều này có vẻ như không đúng so với thực tế. Vì việc áp dụng hỗn hợp vôi, khoáng là gần như phải đúng dịnh lượng và làm định kì, điều này vô tình làm cho chi phí lại tăng lên. Do đó mật độ thả nuôi trong vùng mặn thấp cần phải có tính toán để phù hợp với chi phí khoáng chất bổ sung trong nguồn nước.
- Mô hình nuôi tôm độ mặn thấp: hoàn toàn có thể mang lại hiệu quả kinh tế rất cao và an toàn dịch bệnh, miễn là người nuôi làm chủ được kỹ thuật quản lý khoáng chất và kiểm soát chặt chẽ các chỉ số độc tính trong nước.
Lưu ý: Ở độ mặn rất thấp ít được khuyến cáo cho nuôi ao lót bạt trong toàn bộ quá trình nuôi.
Hiểu rõ vấn đề theo thời gian, mô hình, mùa vụ , mức độ quan sát tôm để tìm ra được phương pháp giải quyết vấn đề sẽ là việc làm quan trọng nhất.


